`

448 người đang online

Tổ chức bài học lịch sử tại bảo tàng địa phương cho học sinh phổ thông (qua thực tiễn sư phạm ở Thanh Hóa)

Đăng ngày 24 - 04 - 2019

Ở nước ta, ngoài hệ thống bảo tàng (BT) Trung ương, hầu như mỗi tỉnh, thành đều có BT địa phương. Đây thường là BT tổng hợp, có chức năng nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê - bảo quản, trưng bày phát huy giá trị những tài liệu, hiện vật về văn hóa vật chất, tinh thần, về tiến trình lịch sử và những sự kiện lịch sử tiêu biểu của địa phương. Vì vậy, đây cũng là địa điểm lý tưởng để tổ chức bài học lịch sử cho học sinh phổ thông (HSPT). Tuy nhiên, vì nhiều lý do, hiện nay lợi thế này vẫn chưa được phát huy. Để tổ chức có hiệu quả các bài học lịch sử tại BT địa phương cho HSPT, cần có các hình thức, phương pháp khoa học và sự kết hợp chặt chẽ hơn giữa nhà trường với BT. Thực tiễn dạy học ở Thanh Hoá, một tỉnh có bảo tàng địa phương khá lớn, đã chứng minh tình hình này.

1. Ý nghĩa của việc tổ chức bài học lịch sử cho học sinh phổ thông tại bảo tàng địa phương

“BT là cơ quan sưu tầm, giám định và trưng bày các tài liệu, hiện vật có tính chất nguyên gốc, đầu tiên của tri thức về lịch sử phát triển của xã hội và tự nhiên, về lịch sử của cuộc đấu tranh cách mạng” [ 2, Tr 8]. BT nói chung, BT tổng hợp địa phương nói riêng đều có hai chức năng cơ bản, chức năng nghiên cứu khoa học, thu thập, đánh giá các tài liệu, hiện vật gốc và chức năng giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa cho đông đảo quần chúng nhân dân đến tham quan, học tập, nhất là thế hệ trẻ học sinh, sinh viên. Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, việc tăng cường cho học sinh tiếp xúc, “làm việc” với các tài liệu lịch sử ngoài sách giáo khoa, nhất là tài liệu ở bảo tàng (BT) có ý nghĩa nhiều mặt. BT là nơi lưu giữ, trưng bày các bằng chứng “vật thật” về các sự kiện lịch sử. Vì vậy, trong dạy học lịch sử ở trường PT, tư liệu của BT vừa là nguồn sử liệu quan trọng, vừa là phương tiện dạy học có hiệu quả, góp phần tạo cho học sinh những biểu tượng lịch sử cụ thể, chân thực, chính xác về các sự kiện lịch sử, bổ sung các kiến thức lịch sử mà SGK không có điều kiện trình bày. Học tập lịch sử tại BT sẽ rèn luyện cho HS các năng lực tư duy lịch sử, như quan sát, tưởng tượng, các kỹ năng thực hành bộ môn, khắc phục tình trạng dạy chay, bệnh hiện đại hoá lịch sử. Học tập tại BT còn tạo cho HS hứng thú, say sưa tìm hiểu lịch sử, bồi dưỡng cho các em lòng tự hào về truyền thống của quê hương, đất nước… Đưa HS đến BT còn giáo dục cho các em ý thức tôn trọng, gìn giữ các di sản văn hoá quý báu của dân tộc. Ví dụ, đưa HS lớp 6 đến học tập tại phòng trưng bày “Trống đồng phát hiện ở Thanh Hóa” của BT Thanh Hoá, các em được tận mắt chiêm ngưỡng gần 100 chiếc trống đồng thật với những hình dáng, kích cỡ khác nhau, các em sẽ hình dung rõ đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng của người Việt cổ, hiểu được những thành tựu cơ bản của văn hoá Đông Sơn, và đặc biệt tự hào, quê hương mình - vùng đồng bằng sông Mã là một trong những trung tâm của nền văn minh đầu tiên trong lịch sử dân tộc, văn minh Đông Sơn. BT nói chung, BT địa phương nói riêng. Tài liệu, hiện vật ở BT địa phương đã được các nhà khoa học thẩm định, nghiên cứu, sắp xếp, trưng bày theo các chủ đề, gần sát với nội dung các quá trình lịch sử Việt Nam, vì vậy thuận lợi cho việc tổ chức các bài học lịch sử địa phương, lịch sử dân tộc. Các BT địa phương lại thường ở vị trí trung tâm tỉnh thành, có vị trí, cảnh quan đẹp, rất dễ tổ chức các hoạt động dạy học lịch sử, cả bài nội khoá và ngoại khoá.

Như vậy, tổ chức tốt các bài học lịch sử tại BT là một giải pháp hữu hiệu, góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường PT hiện nay.

2. Nội dung trưng bày của bảo tàng tỉnh Thanh Hoá có thể tổ chức các bài học lịch sử cho học sinh phổ thông.

Thanh Hóa là một tỉnh lớn, có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời, vì vậy, BT Thanh Hóa là một trong những BT địa phương lớn, ra đời sớm trong cả nước. BT Thanh Hóa là một quần thể kiến trúc độc đáo, được xây dựng từ thời Pháp ở trung tâm thành phố. Đây là nơi lưu giữ, bảo quản, trưng bày và phát huy những giá trị di sản quý báu của xứ Thanh nói riêng và Việt Nam nói chung. Toàn bộ hệ thống trưng bày gồm 7 phòng, diện tích trưng bày trên 1.200 m2, với hơn 2.000 hiện vật gốc và các loại tranh, ảnh, tài liệu khoa học... Hệ thống trưng bày chính của BT Thanh Hóa được trình bày theo tiến trình lịch sử, từ thời Sơ sử đến Đại thắng mùa Xuân năm  1975, trong một không gian gồm 4 phòng trưng bày. Bên cạnh đó, Bảo tàng tổ chức giới thiệu 3 phòng trưng bày chuyên đề giúp bổ trợ, làm phong phú thêm cho hệ thống trưng bày chính.

1. Phòng trưng bày “Thanh Hoá thời Tiền sử - Sơ sử”. Phác họa bức tranh sinh hoạt kinh tế của con người trong buổi bình minh lịch sử. Với những sưu tập cổ sinh tìm được ở vùng miền núi Thanh Hoá và những di vật của thời Tiền sử ở núi Đọ, núi Nuông, Mái Đá Điều, hang Con Moong, Đa Bút... đã chứng minh Thanh Hóa là vùng đất tối cổ. Cách đây 40 - 30 vạn năm con người đã có mặt và liên tục phát triển ở vùng đất này.

Thời kỳ dựng nước đầu tiên, giới thiệu các văn hoá Tiền Đông Sơn với ba giai đoạn phát triển kế tiếp nhau: Giai đoạn Cồn Chân Tiên, Đông Khối, Quỳ Chữ.

Trọng tâm của phòng trưng bày giới thiệu Văn hoá Đông Sơn trên đất Thanh Hóa, là nền tảng cơ sở vật chất góp phần tạo dựng Nhà nước Văn Lang thời các vua Hùng dựng nước. Phần này được thể hiện sinh động cụ thể, đầy sức thuyết phục thông qua các sưu tập công cụ sản xuất, đồ dùng sinh hoạt, vũ khí, đồ trang sức... Đặc sắc nhất là sưu tập trống đồng, thạp đồng cùng với  hoạ tiết trang trí tuyệt mỹ của nghệ thuật trang trí đồ đồng Đông Sơn đã gây được ấn tượng sâu sắc đối với khách tham quan, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.   

2. Phòng trưng bày “Thanh Hóa từ thế kỷ X đến giữa TK XIX”. Bằng các hiện vật, tài liệu khoa học công nghệ phụ trợ, phòng trưng bày giới thiệu những nội dung, những sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước trong giai đoạn lịch sử từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX theo tiến trình lịch sử.

3. Phòng trưng bày “Truyền thống yêu nước và Cách mạng Thanh Hoá, giai đoạn 1858-1945”. Phản ánh một giai đoạn quan trọng trong lịch sử Việt Nam từ khi thực dân Pháp xâm lược (năm 1858) đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Phòng trưng bày giới thiệu nhiều hiện vật phản ánh sự kiện trọng đại trong lịch sử Thanh Hóa, như việc thành lập Đảng bộ Thanh Hóa ngày 29/7/1930, như chiếc mâm xà dùng làm bàn in tài liệu của Đảng, sưu tập vũ khí của du kích Ngọc Trạo (năm 1941), hình ảnh ngôi nhà mẹ Tơm và tráp cắt tóc của con trai mẹ Tơm dùng để cất giấu tài liệu, nuôi giấu đồng chí Tố Hữu và các cán bộ cách mạng, chiếc trống lệnh dùng trong khởi nghĩa Hoằng Hóa ngày 24/7/1945, cùng với sưu tập vũ khí thô sơ nhân dân ta đã dùng để giành chính quyền Cách mạng...

4. Phòng trưng bày “Thanh Hoá trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, giai đoạn 1945-1975”. Giới thiệu khái quát nhưng có hệ thống về tinh thần chiến đấu anh dũng, những đóng góp to lớn của Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

5. Phòng trưng bày “Trống đồng phát hiện ở Thanh Hoá”. Là phòng trưng bày duy nhất hiện nay ở Việt Nam giới thiệu về một loại cổ vật, đặc sắc, quí hiếm phát hiện trên đất Thanh Hóa - trống đồng cổ. Ở vị trí trang trọng nhất, phòng trưng bày giới thiệu sưu tập trống đồng loại I Heger, với sự hiện diện của những chiếc trống tiêu biểu như: Trống Xuân Châu II, Trống Thọ Xuân, trống Cẩm Giang, trống Mả Nguôi... cùng những họa tiết hoa văn trang trí tuyệt mỹ của nghệ thuật trang trí đồ đồng Đông Sơn. Qua sưu tập trống minh khí (đồ chôn theo người chết), ảnh chụp các ngôi mộ cổ Đông Sơn có chôn theo trống đồng cùng những vật dụng khác, BT trưng bày, giới thiệu để khách tham quan hiểu rõ hơn giá trị của trống đồng trong đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Đông Sơn. Phần tiếp nối, phòng trưng bày giới thiệu những thư tịch cổ, thần tích, sắc phong cùng với sự có mặt của sưu tập trống đồng loại II Heger (trống Mường), đã phản ánh rõ mối quan hệ Việt - Mường.

6. Phòng trưng bày “Đặc trưng văn hóa dân tộc Mường ở Thanh Hóa”, với hơn 300 hình ảnh, hiện vật gốc đặc sắc, tiêu biểu, đã giới thiệu một cách khái quát những đặc trưng trong đời sống vật chất, đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Mường ở xứ Thanh.

7. Phòng trưng bày “Đặc trưng văn hóa dân tộc Thái ở Thanh Hóa”, giới thiệu một cách khái quát những đặc trưng trong đời sống vật chất, đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Thái ở xứ Thanh.

Ngoài 7 phòng trưng bày trên, ngoại thất của BT còn là nơi trưng bày các tác phẩm mỹ thuật điêu khắc đá tiêu biểu thời Lê - Nguyễn, những hiện vật có thể khối lớn như súng thần công thời Nguyễn, máy cày DT24 của Bác Hồ tặng hợp tác xã Yên Trường, máy bay MIG 17 của trung đoàn không quân 921 tham gia chiến đấu ở Hàm Rồng ngày 3-4/4/1965... theo một logic chặt chẽ, tạo cảnh quan khuôn viên BT rất sinh động và bề thế.

Với hệ thống trưng bày trên, chúng ta có thể tổ chức cho HSPT đến tham quan, học tập tại BT về các chủ đề lớn của lịch sử dân tộc và lịch sử Thanh Hoá, như “Văn hoá Đông Sơn ở Thanh Hoá”, “Khởi nghĩa Bà Triệu năm 248”, “Khởi nghĩa Lam Sơn ở Thanh Hoá”, “Thanh Hoá trong phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX đầu XX”, “Quá trình vận động cách mạng tháng Tám 1945 ở Thanh Hoá”, “Thanh Hoá trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954”,“Thanh Hoá trong cuộc kháng chiến chống Mỹ 1954 - 1975”,“Nền văn hoá các dân tộc thiểu số ở Thanh Hoá”…

3. Hình thức, phương pháp tổ chức bài học lịch sử cho học sinh phổ thông tại bảo tàng địa phương.

Ý nghĩa nhiều mặt của việc sử dụng BT trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông đã được khẳng định. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, lợi thế này chưa được phát huy. Qua điều tra thực tế tại BT Thanh Hoá cho thấy, hiện nay mới khoảng 30% các trường tiểu học, THCS, THPT trong thành phố đưa HS đến tham quan, học tập tại BT (Nhiều nhất vẫn là các trường tiểu học). Các trường ở huyện xa thành phố, tỷ lệ còn ít hơn nhiều. Hình thức học tập chủ yếu là các trường đưa từng đoàn HS đến BT nghe thuyết minh, giới thiệu khái quát về nội dung trưng bày. Với cách thức này, kết quả của việc học lịch sử tại BT dĩ nhiên còn hạn chế. Cũng đã có trường PT ở thành phố Thanh Hoá tổ chức dạy học bài lịch sử dân tộc, địa phương tại BT, nhưng còn rất ít.

Từ thực tiễn trên, chúng tôi trình bày một số vấn đề về hình thức, phương pháp tổ chức bài học lịch sử tại BT địa phương.

Thứ nhất, tham quan tại bảo tàng.

Tham quan tại BT là hình thức phổ biến hiện nay, vì nó dễ thực hiện, nhằm mục đích minh hoạ, cụ thể hóa những kiến thức đã được học, “để lại một ấn tượng mạnh mẽ, nâng cao hứng thú học tập và rèn luyện khả năng quan sát, phân tích của học sinh” [3, Tr 287]. Ví dụ, đưa HS lớp 6 đến tham quan phòng trưng bày “Trống đồng phát hiện ở Thanh Hóa”, HS được tận mắt quan sát những chiếc trống đồng thật, với những hoa văn trang trí tinh xảo, kết hợp với lời giới thiệu của các hướng dẫn viên. Điều đó làm cho các em hiểu rõ hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người Việt cổ, bổ sung rất nhiều cho bài dạy trên lớp, hay những hình ảnh tư liệu trong SGK mà các em đã được học. Được tham quan BT, các em càng tự hào Thanh Hóa không chỉ là nơi đầu tiên phát hiện ra trống đồng - một di vật tiêu biểu của nền văn hóa Đông Sơn, mà còn là nơi có bộ sưu tập trống đồng lớn nhất trong cả nước.

Các nhà lý luận dạy học bộ môn đã chỉ ra có hai loại tham quan: một là, “tham quan phục vụ trực tiếp nội dung bài học nội khóa, và có thể là bài giảng trong nhà BT”, hai là “những cuộc tham quan có tính chất một hoạt động ngoại khóa ở nhà BT” [3, Tr 283]. Sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối, vì hai loại này thường đan xen lẫn nhau. Ở đây, chúng tôi chủ yếu trình bày phương pháp tiến hành buổi tham quan tại BT địa phương có tính chất ngoại khóa.

Trước hết, GV phải chuẩn bị cho buổi tham quan chu đáo, liên hệ chặt chẽ với phòng Trưng bày - Tuyên truyền của Bảo tàng. Thông thường các hướng dẫn viên của BT là người giới thiệu, hướng dẫn tham quan, nhưng GV cần trao đổi kỹ những yêu cầu, nội dung chủ yếu của buổi tham quan. Mỗi buổi tham quan thường diễn ra từ 60 phút đến 90 phút (đối với các lớp nhỏ), 90 phút đến 120 phút (đối với các lớp lớn). Trước buổi tham quan, giáo viên cần nêu rõ mục đích buổi tham quan, những nội dung lịch sử cần tìm hiểu kỹ. Mở đầu buổi tham quan, hướng dẫn viên giới thiệu sơ lược về vị trí, những phòng trưng bày chính của BT, sau đó lần lượt giới thiệu các hiện vật trưng bày theo nội dung, chủ đề của phòng trưng bày. Mặc dầu hướng dẫn viên là người giới thiệu chính, nhưng giáo viên phải có sự kết hợp chặt chẽ, như hướng dẫn HS quan sát, tìm hiểu những hiện vật, tài liệu chủ yếu, nêu các câu hỏi về những vấn đề chưa rõ, duy trì đúng tiến trình, kế hoạch của một buổi tham quan. Cuối buổi tham quan, giáo viên giao bài tập về nhà cho HS, thường là viết thu hoạch về một vấn đề chủ yếu của buổi tham quan dưới dạng các bài tập nhận thức. Sau buổi tham quan, GV có thể tổ chức cho HS trao đổi, hoặc viết thu hoạch một số vấn đề nhằm nâng cao nhận thức của các em. Ví dụ qua buổi tham quan phòng trưng bày “Trống đồng phát hiện ở Thanh Hóa”, giáo viên nêu bài tập thảo luận “Tại sao nói Thanh Hoá là một trung tâm của nền văn minh Đông Sơn?”. Vì là buổi tham quan ngoại khóa tại BT, ngoài nội dung chủ yếu, GV có thể hướng dẫn HS xem lướt qua các khu vực trưng bày khác, nhất là khu vực ngoại thất của BT, nơi có những hiện vật lớn, như chiếc máy bay MIG 17 của trung đoàn không quân 921 tham gia chiến đấu ở Hàm Rồng ngày 3-4/4/1965. Điều đó tạo hứng thú cho HS và cũng làm cho buổi tham quan không nặng nề, buồn chán.

Thứ hai, tiến hành bài học lịch sử theo chủ đề tại BT.

Đây là hình thức dạy học khó, đòi hỏi chuẩn bị công phu hơn, nhưng nếu thực hiện được, hiệu quả giáo dục rất lớn. Trước hết giáo viên cần lựa chọn các chủ đề phù hợp với nội dung chương trình và trình độ HS. Thông thường đó là các chủ đề về lịch sử địa phương, như “Văn hoá Đông Sơn ở Thanh Hoá”, hoặc sự kiện lịch sử dân tộc nhưng xảy ra ở địa phương, như “Khởi nghĩa Bà Triệu năm 248”. Các chủ đề chúng tôi nêu ở trên đều là những chủ đề quan trọng, được ngành Giáo dục và Đào tạo quy định trong chương trình lịch sử địa phương ở trường THCS và THPT.

Khác với buổi tham quan, thường do hướng dẫn viên BT giới thiệu là chính, bài học theo chủ đề tại BT thường do giáo viên tiến hành, có sự phối hợp với hướng dẫn viên. Trình tự buổi học cũng giống như tiến hành trên lớp, nhưng tập trung vào việc hướng dẫn HS quan sát các hiện vật, tài liệu, tranh ảnh lịch sử tiêu biểu mà BT trưng bày, sau đó hướng dẫn HS tìm hiểu các nội dung lịch sử. Ví dụ, tổ chức cho HS lớp 10 học tập chủ đề “Văn hoá Đông Sơn ở Thanh Hoá”, giáo viên hướng dẫn HS tập trung quan sát, tìm hiểu, thảo luận 3 vấn đề sau:

Một là, hướng dẫn các em quan sát bức tranh “Làng cổ Đông Sơn”. Các em được biết rằng, đây là một làng cổ có từ thời Đông Sơn bên bờ sông Mã, thuộc phường Hàm Rồng thành phố Thanh Hoá. Năm 1924 một người nông dân của làng trong lúc đào giun câu cá đã phát hiện ra một số đồ đồng do đất sông lở làm lộ ra. Sau đó, trường Viễn Đông Bác Cổ uỷ nhiệm cho viên Thương chính Thanh Hoá là Pajot tiến hành khai quật từ 1924 đến 1928. Các hiện vật khai quật được đưa về trưng bày, nghiên cứu tại trường Viễn Đông Bác Cổ. Mặc dầu với quan điểm thực dân về nguồn gốc của nền văn hóa này là từ bên ngoài, nhưng cái tên Văn hoá Đông Sơn, văn hoá thời đại đồng thau đã có từ khi đó. Từ những năm đầu 1960 đến nay, sau nhiều lần khai quật chính thức và điều tra thám sát, các nhà khoa học Việt Nam đã thu thập được hàng vạn di vật phong phú các loại, đặc biệt trống đồng Đông Sơn. “Tất cả đã phản ánh một cách sinh động khách quan trình độ của đời sống vật chất - tinh thần của người Đông Sơn. Đây chính là trung tâm của Văn minh lưu vực sống Mã thời kỳ Hùng Vương” [1, Tr 12].

Hai là, hướng dẫn HS quan sát tấm bản đồ về các điểm di tích thuộc văn hoá Đông Sơn được phát hiện ở Thanh Hoá, HS hiểu được, Thanh Hoá không chỉ là nơi đầu tiên phát hiện ra văn hoá Đông Sơn, nơi tìm thấy trống đồng thông qua khai quật khảo cổ, mà còn là nơi có số lượng di tích Đông Sơn nhiều nhất cả nước. Thuộc nền văn hoá này, trên phạm vi của tỉnh đến nay đã có 124 địa điểm, từ các hang động miền núi, các lưu vực sông Chu, sống Mã, đến các vùng ven biển.

Ba là, hướng dẫn HS quan sát phòng trưng bày “Trống đồng phát hiện ở Thanh Hóa”, các em được chiêm ngưỡng bộ sưu tập trống đồng -  hiện vật tiêu biểu của văn hoá Đông Sơn, lớn nhất cả nước (gần 100 chiếc), các em hiểu rõ hơn thành tựu văn hoá vật chất, tinh thần của cư dân xứ Thanh thời Hùng Vương

Từ 3 nội dung cơ bản trên, giáo viên hướng dẫn HS thảo luận những nội dung chính của bài học, đó là : “ Qua các tài liệu, hiện vật trưng bày tại BT, em hãy lý giải vì sao nói Thanh Hóa là một trong những trung tâm của nền văn hóa Đông Sơn?”; “Bối cảnh ra đời, những thành tựu chính và ý nghĩa của Văn hoá Đông Sơn ở Thanh Hoá”. Đây cũng có thể là bài tập về nhà cho HS.

Nội dung chính của bài học nên tiến hành từ 45 - 60 phút, sau đó GV cần tổ chức cho HS tham quan lướt những nội dung chính của các phòng trưng bày khác, hoặc tổ chức các hoạt động vui chơi tại khuôn viên của BT. Những hoạt động này có thể kéo dài thêm từ 45 đến 60 phút nữa.

*. Kết luận và kiến nghị.

 Tổ chức dạy học tại BT địa phương có ý nghĩa nhiều mặt, làm phong phú hình thức dạy lịch sử hiện nay ở trường PT, góp phần nâng cao chất lượng môn học. Hình thức dạy học lịch sử tại BT địa phương có nhiều, nhưng chủ yếu là tổ chức tham quan BT có tính chất ngoại khóa và tổ chức dạy học bài lịch sử địa phương, lịch sử dân tộc tại BT theo các chủ đề.

 Để các hình thức dạy học trên có hiệu quả, cần có phương pháp tiến hành khoa học và có sự kết hợp chặt chẽ hơn nữa giữa nhà trường với BT, trước hết trong việc tổ chức dạy học các bài học lịch sử tại BT. Các BT địa phương cần có các chương trình “tìm về bảo tàng”, nhằm thu hút nhiều hơn HS các trường PT đến học tập lịch sử tại BT. Ngành Giáo dục đào tạo trong chương trình lịch sử địa phương cũng cần quy định các nội dung, hình thức học tập tại BT cho các trường phổ thông.

PGS. TS. Hoàng Thanh Hải - Trường Đại học Hồng Đức

Tài liệu tham khảo chủ yếu:
1. Ban quản lý di tích, danh thắng Thanh Hóa, 2007, Di tích- Danh thắng Thanh Hóa, Tập III, Nxb Thanh Hóa.
2. Nguyễn Thị Côi, 1998, Bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông trung học,  Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội.
3. Phan Ngọc Liên, Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, 2005,  Phương pháp dạy học lịch sử , Tập II, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

Ý kiến bạn đọc
    <

    Tin mới nhất

    Chỉnh lý trưng bày: Mâu thuẫn và Thách thức(10/10/2019 9:08 SA)

    Vài nét tìm hiểu về đặc trưng và sự phát huy giá trị các sưu tập hiện vật lịch sử, văn hóa của...(24/04/2019 8:35 SA)

    Tổ chức bài học lịch sử tại bảo tàng địa phương cho học sinh phổ thông (qua thực tiễn sư phạm ở...(24/04/2019 8:32 SA)

    Phấn khởi tự hào chặng đường đã qua, vững bước đi lên trong thời gian tới(24/04/2019 8:28 SA)

    Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa 35 năm xây dựng và trưởng thành, coi trọng công tác giáo dục truyền thống...(24/04/2019 8:23 SA)

    <

    Tin liên quan

    Chỉnh lý trưng bày: Mâu thuẫn và Thách thức(10/10/2019 9:08 SA)

    Vài nét tìm hiểu về đặc trưng và sự phát huy giá trị các sưu tập hiện vật lịch sử, văn hóa của...(24/04/2019 8:35 SA)

    Phấn khởi tự hào chặng đường đã qua, vững bước đi lên trong thời gian tới(24/04/2019 8:28 SA)

    Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa 35 năm xây dựng và trưởng thành, coi trọng công tác giáo dục truyền thống...(24/04/2019 8:23 SA)

    Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa 35 năm xây dựng và phát triển(24/04/2019 8:17 SA)

    Hiện vật tiêu biểu