`

828 người đang online

Sưu tập bình vôi lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa

Đăng ngày 23 - 03 - 2020

Ăn trầu là một tập tục xuất hiện từ rất lâu đời ở Việt Nam. Từ bao đời nay, miếng trầu đã trở thành chiếc cầu nối trong các mối quan hệ xã hội, bởi trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Để phục vụ cho tập tục này hàng loạt các vật dụng cần thiết như âu đựng trầu, cối giã trầu, chìa vôi… đã ra đời. Trải qua bao đời, bình vôi không đơn thuần là một vật chứa vôi mà còn có mối liên hệ khăng khít với truyền thống và văn hoá Việt, trở thành vật biểu trưng của văn hóa trầu Việt.

Bình vôi thường có dáng hình cầu, trên thân bình có một lỗ tròn nhỏ, có quai xách, nhưng có một số bình không có quai xách, chất liệu có thể được làm bằng gốm, sành, sứ hay bằng đồng. Kích thước của bình vôi cũng khá đa dạng, có chiếc là bình cá nhân, kích cỡ vừa phải hoặc nhỏ có thể mang theo trong túi, nhưng có những chiếc có kích cỡ rất lớn.

Khi nói tới bình vôi, người Việt thường dùng đại từ “ông” thay vì dùng lượng từ “cái” hoặc “chiếc” thông thường. Khi gọi bình vôi là “ông bình vôi” là đã sử dụng biện pháp nhân cách hoá chiếc bình, thể hiện sự tôn trọng của người Việt, coi bình vôi như một thành viên trong gia đình. Và tất nhiên, “ông bình vôi” cũng giữ một vị trí quan trọng, thân tình trong cuộc sống hàng ngày. “Ông” có mặt hầu hết các gia đình người Việt cổ, không những giữ cho vôi luôn được nóng để giúp các cụ ăn trầu ngon miệng, mà “ông” còn là người chứng kiến bao thăng trầm của nhiều thế hệ gia chủ.

Khi muốn ăn trầu, các bà phải têm trầu cau với vôi ở một tỷ lệ phù hợp và khi lấy vôi ra khỏi bình, thường thì lượng vôi nhiều hơn mức cần thiết nên các bà quẹt vôi lại ở miệng bình. Đến một lúc nào đó, miệng bình vôi bị mặt vôi khô cứng bịt kín. Đó là lúc chiếc bình vôi thành “ông bình vôi”, tức đã “có thần”, đã thành “thần bình vôi”. Dân gian không bao giờ vứt bình đi mà trân trọng mang ra đặt thờ ở gốc đa đầu làng hoặc ở những ngôi đền, chùa.

Hình ảnh “ông bình vôi” gợi nhớ đến phong tục dân giã của các làng quê Việt Nam - tục ăn trầu; nhớ đến hình ảnh thân thương của các bà, các mẹ trong đời thường, trong những đám cưới hỏi, mọi người quây quần xúm lại bổ cau, quệt vôi, têm trầu với tiếng cười, câu chuyện râm ran… Tất cả đã tạo nên những giá trị văn hóa truyền thống từ ngàn đời nay, in sâu, lắng đọng trong đời sống tinh thần của các thế hệ người dân Việt Nam.

Tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa, hiện đang lưu giữ và trưng bày sưu tập bình vôi gồm 56 chiếc, niên đại từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 19. Kích thước, chất liệu của các bình vôi khác nhau: gốm (42 chiếc) và sành (14 chiếc); chiếc bé nhất có chu vi thân: 17,5cm; cao (cả quai): 7,8cm; chiếc lớn nhất có chu vi thân: 56cm; cao (cả quai): 24cm.

Về kiểu dáng, nếu như bình vôi sành khá đơn giản, chủ yếu là những chiếc bình không quai, đỉnh có núm hình nón hoặc hình miệng lọ, thì bình vôi gốm được sáng tạo thành nhiều kiểu khác nhau. Mặc dù đa phần các bình vôi gốm được chế tạo mang biểu tượng cụ thể: rằng bầu đựng vôi tượng trưng cho tảng đá, quai bình là thân cây cau, các chi tiết khác trang trí trên quai tượng trưng cho dây trầu, nhưng ở mỗi thời kỳ, bình vôi lại có những đặc trưng riêng mang phong cách thời đại. Bình thời Lý phủ men màu trắng ngà, quai cầm thấp nhỏ, mô phỏng hình yên ngựa hoặc hình con giảo long. Bình vôi thời Lê ngoài lớp men rạn màu trắng ngà, thì quai và một phần thân còn phủ men màu xanh lục (tượng trưng cho lá trầu), quai cầm cũng được cách điệu thành nhiều kiểu khác nhau, chân quai đắp nổi hình chùm cau hoặc tua dài. Loại bình vôi này chiếm số lượng lớn (32 chiếc). Đến cuối thời Lê sang đầu thời Nguyễn, bình vôi được thiết kế với quai cầm cong cao, những chi tiết đắp nổi giảm bớt thay vào đó là những họa tiết hoa văn vẽ lam hình rồng, hình hoa cúc…

Tất cả những bình vôi này được sưu tầm về từ nhiều nguồn khác nhau, qua tìm hiểu cho thấy phần lớn hiện vật đã qua sử dụng. Trong đó: 15 hiện vật thu được qua khai quật di tích chùa Đồng Đó (xã Dân Lý, huyện Triệu Sơn), năm 2011; 04 hiện vật thu được qua khai quật di tích chùa Linh Xứng (xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung), năm 2009. Phải chăng những hiện vật này sau khi lên “ông” đã được các cụ mang ra đặt tại các ngôi chùa này để thờ phụng ???

Trong số những hiện vật này, chiếc bình vôi ký hiệu kiểm kê BTTH 624/S: 220 (thời Lê) lại trở nên vô cùng đặc biệt khi vào tháng 7/1930, các đồng chí đảng viên đang phải hoạt động bí mật, thì gia đình ông Lê Văn Sỹ đã sử dụng bình vôi này giả làm người đi bán trầu, canh gác cho cuộc họp bầu Tỉnh ủy bí mật tại làng Yên Trường, xã Thọ Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Bảng thống kê Bình vôi đang trưng bày và lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa:

Stt
Tên gọi hiện vật
Niên đại
Ký hiện KK
SL
Chất liệu
Ghi chú
 
Bình vôi gốm
 
1
Bình vôi
TK 11 - 12
BTTH 393/S: 56
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà, quai mô phỏng hình yên ngựa.
2
Bình vôi
TK 11 - 12
BTTH 10591/S: 4752
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà, quai  mô phỏng hình yên ngựa.
3
Bình vôi
TK 11 - 12
BTTH 623/S: 219
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà, gãy quai.
4
Bình vôi
TK 11 - 12
BTTH 9637/S: 4147
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà, quai nhỏ, thân quai tròn cong, hai đầu quai tạo móc xoắn.
5
Bình vôi
TK 14 - 15
BTTH 10678/S: 1380
1
Gốm
Men rạn màu trắng sáng, quai cong cao.
6
Bình vôi
TK 15 - 16
BTTH 755/S: 459
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà và ít xanh lục nhạt, quai nhỏ, thân quai tròn cong, hai đầu quai trang trí hình chùm cau có tua.
7
Bình vôi
TK 15 - 16
BTTH 10679/S: 1381
1
Gốm
Men màu trắng ngà và xanh lục, quai nhỏ, thân quai tròn cong có tua.
8
Bình vôi
TK 15 - 16
BTTH 7505/S: 2917
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà và xanh lục, quai tròn cong.
9
Bình vôi
TK 15 - 16
BTTH 10047/S: 4405
1
Gốm
Men rạn màu trắng và ít xanh lục, quai gãy.
10
Bình vôi
TK 15 - 16
BTTH 10292/S: 4625/3
3
Gốm
Men rạn màu trắng ngà và xanh lục, quai tròn cong thấp, hai đầu quai trang trí chùm cau hoặc tua cau.
11
Bình vôi
TK 15 - 16
BTTH 10682/S: 1385
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà và xanh lục, quai cong, hai đầu quai có tua.
12
Bình vôi
TK 15 - 16
BTTH 10680/S: 1382
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà và xanh lục, quai cong, hai đầu quai trang trí chùm cau có tua.
13
Bình vôi
TK 16 - 17
BTTH 10681/S: 1384
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà và xanh lục, quai cong, hai đầu quai có tua.
14
Bình vôi
TK 16 - 17
BTTH 401/S: 64
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà và xanh lục, quai cong.
15
Bình vôi
TK 16 - 17
BTTH 627/S: 223
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà và xanh lục, quai cong.
16
Bình vôi
TK 15 - 16
BTTH 9180/S: 4018
1
Gốm
Men bong gần hết, còn lại dấu vết men xanh lục ở phần chân quai, quai cầm gãy đắp thêm bằng xi măng.
17
Bình vôi
TK 16 - 17
BTTH 9173/S: 4013
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà và xanh lục, quai cong, hai đầu quai có tua dài.
18
Bình vôi
TK 16 - 17
BTTH 624/S: 220
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà và xanh lục, hai đầu quai có tua dài.
19
Bình vôi
TK 16 - 17
BTTH 7964/S: 3347/3
3
Gốm
Men rạn màu trắng ngà và xanh lục, quai cong cao.
20
Bình vôi
TK 16 - 17
BTTH 9172/S: 4011
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà và xanh lục, quai cong cao, hai đầu quai trang trí chùm cau có tua.
21
Bình vôi
TK 16 - 17
BTTH 410/S: 73
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà và xanh lục, quai cong cao, hai đầu quai có tua.
22
Bình vôi
TK 16 - 17
BTTH 9661/S: 4167
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà và xanh lục, quai cong cao, hai đầu quai trang trí chùm cau có tua.
23
Bình vôi
TK 16 - 17
BTTH 9662/S: 4168
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà và xanh lục, quai cong cao, hai đầu quai có tua.
24
Bình vôi 
TK 16 - 17
BTTH 694/S: 291
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà và xanh lục, gãy quai, hai đầu quai có tua dài.
25
Bình vôi
TK 16 - 17
BTTH 9659/S: 4165/8
8
Gốm
Men rạn màu trắng ngà và xanh lục, quai gãy, hai đầu quai có tua dài.
26
Bình vôi
TK 16 - 17
BTTH 9660/S: 4166
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà và ít xanh lục, quai gãy.
27
Bình vôi
TK 16 - 17
BTTH 9663/S: 4169
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà, gãy quai, hai đầu quai có tua dài.
28
Bình vôi
TK 16 - 17
BTTH 9664/S: 4170
1
Gốm
Men rạn màu trắng ngà, gãy quai, hai đầu quai có tua dài.
29
Bình vôi
TK 16 - 17
BTTH 9665/S: 4171
1
Gốm
Men màu trắng ngà, quai cong mô phỏng hình yên ngựa.
30
Bình vôi 
TK 18 - 19
BTTH 8619/S: 3813
1
Gốm
Men màu trắng ngà, trang trí vẽ lam hình rồng và chữ Thọ, quai cong cao.
31
Bình vôi
TK 19
BTTH 10683/S: 1386
1
Gốm
Men màu trắng ngà, trang trí vẽ lam xám hoa văn hoa cúc, quai cong cao.
 
Bình vôi sành
 
32
Bình vôi
TK 12 - 13
BTTH 9027/S: 3967/2
2
Sành
Đỉnh có núm cầm hình nón.
33
Bình vôi
TK 13 - 14
BTTH 10844/S: 4518/4
4
Sành
Đỉnh có núm cầm hình nón
34
Bình vôi
TK 13 - 14
BTTH 10845/S: 4519/4
4
Sành
Đỉnh có núm cầm hình nón hoặc hình miệng lọ.
35
Bình vôi
TK 15 - 16
BTTH 6630/S: 2551
1
Sành
Đỉnh có núm cầm.
36
Bình vôi
TK 15 - 16
BTTH 10296/S: 4629
1
Sành
Đỉnh có núm cầm hình nón.
37
Bình vôi
TK 16 - 17
BTTH 9666/S: 4172
1
Sành
Đỉnh có núm cầm hình nón.
38
Bình vôi
TK 17
BTTH 9063/S: 3997
1
Sành
Gãy quai, hai bên hông còn tua.
Cộng:
56
 

 

 
Qua bảng thống kê trên chúng ta nhận thấy rằng, mặc dù số lượng bình vôi lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa tương đối nhiều, nhưng kiểu dáng chưa thật sự đa dạng, thiếu vắng những bình vôi có niên đại sớm hoặc bình vôi thời Trần, thời Nguyễn số lượng cũng rất khiêm tốn. Trong thời gian tới Bảo tàng cần tiếp tục sưu tầm thêm những “ông bình vôi” quý, hiếm (như những bình vôi ký kiểu thời Nguyễn) để loại hình hiện vật này ở Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa ngày càng đa dạng và phong phú về kiểu dáng cũng như chất liệu, tiến tới xây dựng “Sưu tập Bình vôi”, đồng thời để bảo tồn, gìn giữ và giới thiệu nét văn hóa trầu cau độc đáo của ông cha ta từ ngàn xưa.
Trần Thị Nga
(Phòng Kiểm kê - Bảo quản)
Nguồn: 
Trích: Bảo tàng tỉnh, 2018, "Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa 35 năm thành lập và phát triển (1983-2018)", Nxb Thanh Hóa.

Ý kiến bạn đọc
    <

    Tin mới nhất

    Vài nét về thuế thân qua sưu tập thẻ thuế thân trưng bày tại phòng "Truyền thống yêu nước và cách...(22/04/2020 9:22 SA)

    Một vài suy nghĩ về công tác trưng bày chuyên đề của Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa(22/04/2020 9:17 SA)

    Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền giáo dục tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa(22/04/2020 9:02 SA)

    Công tác trưng bày - tuyên truyền của Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa trước yêu cầu đổi mới nâng cao chất...(17/04/2020 9:30 SA)

    Nhóm hiện vật Đền Sòng hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa(14/04/2020 9:27 SA)

    <

    Tin liên quan

    Vài nét về thuế thân qua sưu tập thẻ thuế thân trưng bày tại phòng "Truyền thống yêu nước và cách...(22/04/2020 9:22 SA)

    Một vài suy nghĩ về công tác trưng bày chuyên đề của Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa(22/04/2020 9:17 SA)

    Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền giáo dục tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa(22/04/2020 9:02 SA)

    Công tác trưng bày - tuyên truyền của Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa trước yêu cầu đổi mới nâng cao chất...(17/04/2020 9:30 SA)

    Nhóm hiện vật Đền Sòng hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa(14/04/2020 9:27 SA)

    Hiện vật tiêu biểu