`

397 người đang online

Tục đắp bếp và nét văn hóa truyền thống qua gác bếp của người Mường

Đăng ngày 28 - 11 - 2019

Ở một xã hội truyền thống hay hiện đại, bếp là một phần không thể thiếu trong mỗi ngôi nhà. Đó là nơi mà các bữa ăn (nhiên liệu tiếp sức cho chúng ta) được tạo ra cũng là nơi sum vầy của các thành viên trong gia đình. Đối với người Mường, gác bếp là một phần đặc biệt quan trọng trong ngôi nhà sàn truyền thống. Đây được coi như “linh hồn” của nếp nhà, một không gian văn hóa đặc sắc cả về vật chất cũng như tinh thần được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Nhà sàn truyền thống của người Mường thường có hai bếp lửa đặt ở hai gian khác nhau, phản ánh phong tục tập quán, sinh hoạt của người dân. Cùng là bếp lửa, hoàn toàn giống nhau về cấu tạo và cách bố trí nhưng công năng sử dụng của mỗi bếp lại khác nhau. Một bếp ở gian trong được gọi là bếp đàn bà, dùng để đun nấu thức ăn, nấu nướng chính của gia đình thì đặt ở gian nằm giữa gian trong cùng và gián tiếp gian cuối. Một bếp nhỏ hơn đặt ở gian ngồi ngoài cùng là bếp khách, người Mường gọi đó là bếp đàn ông, để đàn ông trong nhà ngồi ở đó tiếp khách mỗi khi khách đến chơi nhà.

Một ngôi nhà sàn của người Mường chỉ chính thức được chủ nhân vào ở khi hoàn thành nghi lễ đắp bếp. Theo nhiều nghiên cứu cho thấy đối với người Mường nói chung, người Mường Thanh Hóa nói riêng tục đắp bếp có vai trò hết sức quan trọng là một nét văn hóa, di sản độc đáo. Tục đắp bếp từ lâu đã trở thành một phong tục, nghi lễ cầu mong sự phồn thịnh, mạnh khỏe và no ấm cho mỗi gia đình Mường. Phong tục đắp bếp của người Mường thể hiện sâu sắc những giá trị tâm linh và tín ngưỡng. Đất để đắp bếp phải lấy ở nơi sạch sẽ. Việc chọn ngày đắp bếp do các thầy Mo, chọn ngày Cây theo lịch Đá Rò - đó là ngày khởi phát, ngày sinh sôi, nảy nở. Việc châm lửa nhóm bếp cũng phải chọn ngày tốt, giờ tốt, phải nhờ một vị có uy tín trong cộng đồng tộc, phải là người đàn ông có vợ, con cháu đề huề, gia đình êm ấm, hạnh phúc. Người nhóm bếp là người quan trọng, bởi họ là người chính thức dựng lên ngọn lửa cho ngôi nhà.

Khi giờ lành đến, thầy Mo thay mặt gia đình khấn xin tổ tiên thổ công thổ địa và các vị thần cho phép gia đình thực hiện việc đắp bếp để vào nhà mới. Đầu tiên, người Mường sẽ đắp chiếc bếp lớn sau đó chuyển sang đắp bếp nhỏ. Khuôn bếp được làm bằng loại gỗ chắc và ít bắt lửa như: nghiến, trai, ổi,… hoặc tre già. Bốn khung gỗ được định hình bếp thành hình chữ nhật. Chiều rộng từ 1,2 - 1,5m; chiều dài từ 1,8 - 2m; bề dày đắp đất khoảng 20cm. Trước khi đắp đất thì bẹ chuối tươi được đem lên lót dưới đáy bếp để cách nhiệt giữa mặt bếp với nhà sàn, tránh gây hỏa hoạn. Khi khuôn bếp đã đầy đất, thúng đất cuối cùng phải là số lẻ và đổ trả lại khoảng 1/3 đất trong thúng. Điều này có ý nghĩa như là sự thơm thảo ai cho cái gì không nên lấy hết. Thúng cuối cùng được trả đổ lại cho đất coi như là đắp bếp xong.

Khi đắp bếp xong người ta lấy bẹ chuối cắt thành hình con cá, cho vào cặp làm như cá nướng đem buộc lên cột cái gần bếp. Cá là con vật tượng trưng cho thế giới dưới nước cũng là biểu tượng cho sự may mắn, bởi vậy người Mường chọn cá nướng sau khi đắp bếp được hoàn thành để ước mong về sự mát lạnh, yên ấm, no đủ cho ngôi nhà mới của gia đình mình. Trong bếp của người Mường dù khi có kiềng sắt người ta vẫn dùng ba hòn đá nục, tượng trưng cho ba vua bếp. Hòn đá được chọn ở nơi sạch sẽ, có màu xanh, không được chọn đá cuội ngoài sông, vì loại này khi đốt hay bị nổ. Sau khi đắp bếp xong, gia chủ phải nhóm lửa ngay và phải duy trì ngọn lửa trong ba ngày ba đêm để cầu mong may mắn đến với ngôi nhà mới.

Theo quan niệm của người Mường, ngôi nhà sàn được làm từ những thân gỗ, thân tre lấy từ rừng thì có thể đưa về nhà mình những điềm dữ, điềm gở với con người. Những điều xấu xa ấy được tượng trưng bằng những sợi chỉ trắng được chăng khắp nơi trong ngôi nhà mới. Sau khi cúng xong, thầy Mo cắt sợi dây với ý nghĩa cắt đi mối liên hệ giữa các vật liệu làm nhà mới, xua đuổi cái xấu. Đây là một trong những thủ tục cuối cùng thầy Mo tiến hành để kết thúc nghi lễ đắp bếp.

Các nghi lễ, trình tự của việc đặt bếp luôn được người Mường tuân thủ và tiến hành cẩn thận từng công đoạn, thể hiện sự thiêng liêng và mang ý nghĩa bí ẩn cho quan niệm về tâm linh của người Mường. Trong cuộc sống thường ngày người Mường ít khi để bếp tắt, nếu không đun nấu sẽ ủ than dưới lớp tro, khi cần chỉ thổi lên là được, bếp luôn có hơi ấm. Chính vì vậy, trải qua bao nhiêu thế hệ, nếp nhà sàn của người Mường không thể thiếu linh hồn là gác bếp.

Hiện nay, tại phòng trưng bày “Đặc trưng văn hóa dân tộc Mường ở Thanh Hóa” của Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa đang trưng bày bộ gác bếp được sưu tầm tại nhà ông Lê Văn Cún (ở làng Chiềng Khạt, xã Đồng Lương, huyện Lang Chánh). Bộ gác bếp này đã được gia đình ông sử dụng qua nhiều đời. Gác bếp làm từ những cây luồng già, gác treo gồm 3 ngăn: 2 ngăn chính có kèm theo tấm đan kiểu lóng mốt, một ngăn phụ gồm những song thưa bằng cây luồng nhỏ cùng các sưu tập hiện vật đun nấu: niếng, hông gỗ, hòn nục chủ… các đồ gia dụng thể hiện nghệ thuật tạo hình trong các đồ đan lát như: mâm nan, cái quạch, mủng, ép đựng xôi khi lên nương, sọt, gùi,… Các ngăn dùng để treo, gác đồ dùng sinh hoạt rổ, rá, giỏ treo ống đũa, cối, chày giã ớt… và ngăn gác trưng bày các loại sản phẩm để dành như ngô, lúa giống… các loại gia vị khô để nấu ăn như mộc nhĩ, tỏi, lá đắng… thể hiện sự sung túc có của ăn của để.

Đời sống của người Mường từ xưa đến nay gắn với chiếc gác bếp, không chỉ giúp nấu chín thức ăn mà còn là nơi sum vầy, nơi đi về, là nơi sưởi ấm và bảo vệ con người khỏi thú dữ. Người Mường tự hào rằng: “Bếp ở ngôi nhà sàn Mường là trung tâm để nuôi dưỡng, phát triển sự sống của chính dân tộc Mường”. Cho dù cuộc sống có nhiều đổi thay nhưng nét đẹp truyền thống ấy sẽ mãi được bảo lưu và gìn giữ cho các thế hệ người Mường hôm nay và mai sau./.

Ths. Nguyễn Thị Hương
(Phòng Trưng bày - Tuyên truyền)
Nguồn: 
Trích: Bảo tàng tỉnh, 2018, "Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa 35 năm thành lập và phát triển (1983-2018)", Nxb Thanh Hóa.

Ý kiến bạn đọc
    <

    Tin mới nhất

    Tục đắp bếp và nét văn hóa truyền thống qua gác bếp của người Mường(28/11/2019 10:39 SA)

    Vài nét về lễ hội Kin Chiêng Boọc Mạy và cây hoa Kin Chiêng Boọc Mạy trưng bày tại Bảo tàng tỉnh...(28/11/2019 10:36 SA)

    Một vài suy nghĩ về việc xây dựng chương trình hoạt động khám phá - trải nghiệm tại Bảo tàng tỉnh...(28/11/2019 10:25 SA)

    Các phát hiện mới trong cuộc thăm dò di chỉ Hoa Lộc, xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc năm 2017(08/11/2019 9:03 SA)

    Bộ khung dệt vải truyền thống của đồng bào dân tộc Thái trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa(08/11/2019 4:07 CH)

    <

    Tin liên quan

    Vài nét về lễ hội Kin Chiêng Boọc Mạy và cây hoa Kin Chiêng Boọc Mạy trưng bày tại Bảo tàng tỉnh...(28/11/2019 10:36 SA)

    Một vài suy nghĩ về việc xây dựng chương trình hoạt động khám phá - trải nghiệm tại Bảo tàng tỉnh...(28/11/2019 10:25 SA)

    Các phát hiện mới trong cuộc thăm dò di chỉ Hoa Lộc, xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc năm 2017(08/11/2019 9:03 SA)

    Bộ khung dệt vải truyền thống của đồng bào dân tộc Thái trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa(08/11/2019 4:07 CH)

    Công tác bảo quản hiện vật tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa trong những năm gần đây(07/11/2019 3:27 CH)

    Hiện vật tiêu biểu