`

1136 người đang online

Nghề đúc đồng ở tỉnh Thanh từ truyền thống đến hiện đại

Đăng ngày 22 - 11 - 2016

Xứ Thanh-mảnh đất có nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng, gắn với kỹ thuật chế tác đồ đồng đạt tới trình độ nghệ thuật cao thời các vua Hùng dựng nước. Nghệ thuật chế tác đồ đồng đã từng in dấu ở đất này và đã trở thành nhu cầu trong đời sống, sinh hoạt và tín ngưỡng tâm linh của người Việt cổ và cho đến tận hôm nay.

Tỉnh Thanh nơi có nhiều địa danh và di tích gắn liền với đồ đồng và nhạc cụ bằng đồng nổi tiếng như: Đền Đồng Cổ (Đan Nê, Yên Thọ, Yên Định) thờ thần Đồng Cổ. Vị thần đã dùng tiếng trống nổi lên trên không trung để hỗ trợ Vua Hùng đại thắng quân giặc và sau này thần Đồng Cổ còn nổi trống giúp Vua Lý, Vua Lê đánh tan quân giặc ngoại xâm. Người dân xứ Thanh còn mãi lưu truyền rất nhiều câu chuyện đẹp về Bà Triệu cỡi đầu voi xung trận với tiếng cồng, tiếng chiêng thúc giục ba quân xông lên diệt giặc, cho lời ru mãi ngân nga bên vành nôi con trẻ:

Ru con con ngủ cho lành

Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi

Muốn coi lên núi mà coi

Coi Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng...

Miền núi cao tỉnh Thanh thuộc huyện Bá Thước, nơi có đồi Lai Li, Lai Láng mọc lên cây Chu Đá, lá Chu Đồng, ra bông thau quả thiếc, ở nơi ấy còn lưu giữ rất nhiều trống đồng và cồng chiêng quý giá trong lòng đất và trong dân gian.

Mo sử thi "Đẻ đất đẻ nước" còn ghi hình ảnh đẹp về đồ đồng và những nhạc cụ chế tác từ đồng:

Con trai đi trước khiêng trống

Con gái đi sau xách cồng...

Cồng bảy, cồng mười lên tiếng cho giòn

Cồng cái, cồng con kêu cho rộn...   

 Đồ đồng là báu vật thể hiện sự phồn thịnh cả về vật chất chất lẫn tinh thần của bản Mường.  Đối với người Mường, cồng được coi là linh hồn của đồng bào dân tộc. Đây là nhạc cụ cổ xưa đạt đến trình độ hoà âm tuyệt tác ở thời đại đồng.

Sản phẩm đồ đồng và nhạc cụ chế tác từ đồng vẫn được nhắc nhớ trong mỗi làng quê ở tỉnh Thanh:

Nhất trống Dương Thiềng

Nhất chiêng Yên Mỹ

Các sản phẩm chế tác từ đồng chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống thường ngày cũng như trong các kỳ sinh hoạt tế lễ, hội hè và có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống tâm linh của người Việt cổ xứ Thanh. Ví như các loại nhạc cụ trống đồng, cồng chiêng, chuông, sênh, chũm choẹ... những loại nhạc cụ đó đã đạt đến trình độ điêu luyện từ rất sớm. Trong đời sống và sinh hoạt hằng ngày của người Việt Cổ đã chứng tỏ các sản phẩm đồ đồng đã phục vụ rất thiết thực cho đời sống của con người (ví dụ như mũi tên đồng, dao găm đồng, lưỡi cày đồng hình cánh bướm, những đồ trang sức bằng đồng, gương đồng...) với các sản phẩm đồ đồng được sử dụng đã nhân lên sức mạnh của cư dân Việt Cổ trong quá trình chinh phục thiên nhiên, bảo vệ xóm làng, chống lại nạn ngoại xâm giặc giã và giúp làm ra nhiều của cải vật chất nuôi sống mình và là đồ trang sức, tăng thêm quyền y của những người đứng đầu và tự làm đẹp mình.

Xứ Thanh có nhiều nơi chế tác đồ đồng nói chung và nhạc cụ gõ bằng đồng nói riêng từ lâu đời như làng Còng, huyện Tĩnh Gia xưa chuyên nghề đúc cồng để cung cấp cho khách gần xa. Làng Còng thuộc xã Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Lộc cũng là nơi có nghề đúc chiêng, cồng nổi tiếng. Đặc biệt làng Chè đúc hay còn có tên gọi làng Trà Đúc, Trà Đông, nay thuộc xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa từ xưa tới nay chuyên nghề đúc đồng với các sản phẩm cồng chiêng, thanh la, chuông, đồ gia dụng...cho nhiều nơi trong và ngoài tỉnh. Ông tổ của nghề đúc đồng theo truyền thuyết nơi này còn lưu lại đó là Khổng Minh Không. Còn họ Vũ chính là dòng họ đã đưa nghề đúc đồng đạt tới đỉnh cao và hưng thịnh.

Nghề đúc đồng ở Trà Đồng được lưu truyền qua nhiều thế hệ và theo học giả người Pháp CH.ROBEQUAIN khi đề cập đến nghề luyện kim rèn đúc ở Thanh Hóa những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vẫn còn nhận xét về việc đúc đồng ở Thanh Hóa, ở làng Trà Đông và phương pháp đúc đồng như sau: "Thanh Hóa chỉ đúc và cũng chỉ hạn chế một trong việc đúc đồng, một trong việc đúc gang. Trà Đông, cách thị xã độ 12 km về phía Tây Bắc trên hữu ngạn sông Chu  (T.Vân Quy, P.Thiệu Hoá) là làng có thợ đúc đồng. Độ 3/4 (độ từ 80 - 100 gia đình) sống bằng nghề này bao gồm cả trẻ em, phụ nữ cũng như người lớn. Trong số này nhiều gia đình không có ruộng nên sự hoạt động của nghề chỉ hơi giảm một chút trong vụ cấy và vụ gặt. Nguyên liệu là những khối hay đồng vụn, nát có ít nhiều pha trộn sắt tây có bán ở chợ tỉnh Thanh Hoá hoặc ở các chợ gần đấy (chợ Chè), những người buôn bán này mua đồng từ Hà Nội. Đồng được nấu chảy trong một lò đất sét đốt than và thổi bằng bễ gồm có 2 ống tre lớn trong đó thụt lên thụt xuống hai bùi nhùi, buộc vào một cái gậy. Một phụ nữ hoặc trẻ em thụt bễ trong khi đàn ông trông coi nồi đồng. Đồng nấu chảy được đổ vào những khuôn bằng đất sét làm bằng tay và đúc ra các loại đồ dùng như: chậu, nồi, sanh... mà độ dày thường rất thấp để tiết kiệm nhiên liệu vốn rất hiếm. Các đồ đồng này đem bán ở chợ gần và khắp trong tỉnh, bán sỉ và bán lẻ. Một số thợ đúc Trà Đông dựng lò độ 50 năm nay ở Vạn Lại (T.Quảng Yên, P.Thọ Xuân) để cung cấp cho vùng Mường, nhưng họ vẫn đi lại về quê nhà”.

Bễ thổi truyền thống

Kỹ thuật đúc đồng của thợ Trà Đông đã đạt tới nghệ thuật cao, ngoài việc làm ra những đồ gia dụng được khắp nơi ưa dùng thì riêng về những đồ đồng như: nhạc cụ "cồng chiêng" của thợ đúc ở đây đạt tới kỹ thuật điêu luyện, ví như để có được những chiếc cồng chiêng quý ngoài việc chất liệu ra thì âm thanh của cồng chiêng phải đạt tới độ chuẩn mực, trong khi đó không có máy móc nào thay thế mà chỉ dựa vào kinh nghiệm thẩm âm. Xưa kia, ở làng Chè đúc khi muốn thử để chọn ra chiếc chiêng tốt người ta thường đo tiếng. Cách đo như sau: khi một tiếng chiêng vang ngân, người ta dùng dây mây sải từng sải tay một cho đến khi tiếng chiêng tắt hẳn, vừa nghe vừa đếm. Thử hai ba lần cộng lại thì biết tiếng chiêng ấy độ dài bao nhiêu sải tay. Chiêng đo được nhiều sải tay thì đó là chiếc chiêng tốt nhất.

Kế tục truyền thống đúc đồng xưa của cha ông, nghề đúc đồng ở Thanh Hóa nói chung và ở Trà Đông nói riêng vẫn được duy trì, có lúc cả làng đỏ lửa và cũng nhiều khi chỉ còn lèo tèo đôi ba lò duy trì nghề đúc cũng chẳng thường xuyên, sản phẩm ít người được ưa chuộng, một số nghệ nhân phải giải nghệ chuyển sang tìm việc khác, nghề khác để duy trì cuộc sống. Trong những thập niên 70 cho tới đầu thế kỷ XXI những sản phẩm đáng kể của thợ đúc Trà Đông bao gồm: tượng Bác Hồ có kích thước lớn và đặc tả chân dung Bác đạt tới kỹ thuật cao, đúc cồng, chiêng, niếng, sanh đồng để phục vụ đồng bào miền núi, đúc chân vịt cho tàu biển...vẫn được duy trì.

Từ sau ngày đổi mới và những năm gần đây nghề đúc đồng Thiệu Trung lại thêm khởi sắc. Bên cạnh việc đúc những sản phẩm truyền thống phục vụ thờ cúng, tế lễ, đúc tượng danh nhân, anh hùng dân tộc, đồ mỹ nghệ, lưu niệm. Đặc biệt thợ đúc đồng làng Trà Đông đã nghiên cứu và đúc thành công trống đồng bằng phương pháp thủ công truyền thống với nhiều kích cỡ khác nhau, được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá cao. Trống đồng của thợ đúc Thiệu Trung có mặt hầu hết khắp các tỉnh thành trong cả nước, không những thế sản phẩm đúc đồng còn vươn ra cả nước ngoài. Nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, thợ đúc Trà Đông và các lò đúc ở tỉnh Thanh đã dâng lên ngày đại lễ 1000 chiếc trống đồng trong ngày lễ trọng này. Không những vậy, trống đồng tỉnh Thanh luôn chiếm vị trí quan trọng và được trưng bày trong các bảo tàng lớn, khu lưu niệm các vị lãnh tụ, danh nhân anh hùng dân tộc, có nhiều sản phẩm đạt tới trình độ cao. Ngoài các sản phẩm chủ yếu là trống đồng, Thiệu Trung còn quy hoạch làng nghề, phát triển nghề đúc đồng, các nghệ nhân làng nghề còn đúc được những bức tranh tứ linh, tứ quý, chấp kích, bát bửu….với đề tài dân gian phong phú và đặc sắc được nhiều người ưa thích.

Các sản phẩm đúc mới của làng nghề Trà Đông

Thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, đặc biệt là các chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh đã chú ý tới việc phát triển làng nghề, nhiều dự án đầu tư cho các làng nghề truyền thống trong đó có nghề đúc đồng làng Trà Đúc đã đi vào cuộc sống, nghệ nhân làng Chè đã sống được bằng nghề truyền thống cha ông truyền lại. Tuy vậy, để có được nhiều sản phẩm tinh tuý đòi hỏi kỹ thuật cao như trống đồng, vươn tới sự thể hiện các tượng đài lớn mà yêu cầu của cuộc sống đang đặt ra ở tỉnh Thanh và trên phạm vi cả nước thì việc đầu tư cả về cơ chế chính sách, tiền vốn, đào tạo nghề, chính sách khuyến khích nghệ nhân giữ nghề và truyền nghề để làm nên các sản phẩm đồ đồng nổi tiếng, tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm vẫn là vấn đề đặt ra hết sức cấp thiết đòi hỏi Đảng, Nhà nước, UBND tỉnh Thanh Hóa, các ngành, các cấp từ Trung ương tới cơ sở cần phải quan tâm hơn nữa, có những quyết sách cụ thể sát hợp để nghề đúc đồng cổ truyền phát triển vững chắc, trên cơ sở tiếp thu những kỹ thuật mới, tiên tiến nhằm đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của cuộc sống./.

Hoàng Thị Vân
(Phòng Sưu tầm)

Ý kiến bạn đọc
    <

    Tin mới nhất

    Vài nét về thuế thân qua sưu tập thẻ thuế thân trưng bày tại phòng "Truyền thống yêu nước và cách...(22/04/2020 9:22 SA)

    Một vài suy nghĩ về công tác trưng bày chuyên đề của Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa(22/04/2020 9:17 SA)

    Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền giáo dục tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa(22/04/2020 9:02 SA)

    Công tác trưng bày - tuyên truyền của Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa trước yêu cầu đổi mới nâng cao chất...(17/04/2020 9:30 SA)

    Nhóm hiện vật Đền Sòng hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa(14/04/2020 9:27 SA)

    <

    Tin liên quan

    Sưu tập ấm gốm lưu giữ và trưng bày phát huy giá trị tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa(23/03/2020 3:58 CH)

    Sưu tập bình vôi lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa(23/03/2020 3:18 CH)

    Xây dựng sưu tập hiện vật - Nhiệm vụ quan trọng của Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa hiện nay(23/03/2020 3:17 CH)

    Tục đắp bếp và nét văn hóa truyền thống qua gác bếp của người Mường(28/11/2019 10:39 SA)

    Vài nét về lễ hội Kin Chiêng Boọc Mạy và cây hoa Kin Chiêng Boọc Mạy trưng bày tại Bảo tàng tỉnh...(28/11/2019 10:36 SA)

    Hiện vật tiêu biểu